Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Bước Đầu Học Phật-THÍCH THANH TỪ-Thường Chiếu Ấn Tống - PL. 2543 - 1999

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
cucgahoithui
Nguyên Soái
Nguyên Soái


Nam
Tổng số bài gửi : 6501
Age : 24
Registration date : 20/02/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Bước Đầu Học Phật-THÍCH THANH TỪ-Thường Chiếu Ấn Tống - PL. 2543 - 1999   Sun Jan 18, 2015 11:13 pm

Tu dừng nghiệp
Từ xa xưa không biết đạo lý, chúng ta buông lung thân chạy theo sự giết hại,
trộm cướp, dâm dật (tà dâm) làm đau khổ chúng sanh, tức là nghiệp ác nơi thân. Giờ
đây biết đạo lý, dừng lại không làm nữa, là tu dừng nghiệp của thân. Trước kia nơi
miệng ưa nói dối trá, nói ly gián, nói hoa mỹ, nói thô bạo để lường gạt, chia lìa, say
mê, bực tức khiến người đau khổ, là nghiệp ác của miệng. Hiện nay biết chận đứng
ngăn đón không cho nói những lời ấy nữa, là tu dừng nghiệp nơi miệng. Khi xưa ý
phóng túng chạy theo si mê, tham lam, nóng giận lôi cuốn bản thân mình vào đường
lầm lạc khổ đau và làm thương tổn đến kẻ khác, là nghiệp ác của ý. Giờ này chúng ta
biết hối lỗi, bắt buộc nó dừng lại, là tu dừng nghiệp của ý.
Biết dừng ba nghiệp làm ác, tức là ba nghiệp lành, vì không còn làm đau khổ
chúng sanh. Ta không tạo nghiệp khổ với chúng sanh, làm gì bị nghiệp ác lôi cuốn
chúng ta đến nơi đền trả. Song biết dừng nghiệp ác mới là cái thiện tiêu cực, cần tiến
lên tu cái thiện tích cực chuyển nghiệp.
Tu chuyển nghiệp
Chuyển nghiệp tức là thay nghiệp xấu đổi thành nghiệp tốt. Thay vì ngày xưa
thân ưa giết hại, trộm cướp, dâm dật (tà dâm) nay thích làm việc cứu mạng, giúp đỡ,
trinh bạch, là chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện của thân. Ngày xưa miệng thường
nói dối trá, nói ly gián, nói hoa mỹ, nói thô bạo, nay đổi thành nói chân thật, nói hòa
hợp, nói đúng lý, nói nhã nhặn, là chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện của miệng.
Ngày xưa ý hay si mê, tham lam, nóng giận nay sửa lại thành trí tuệ, buông xả, từ bi, là
chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện của ý. Tu mười nghiệp lành này có tánh cách xây
dựng kiến tạo sự an vui tốt đẹp cho mọi người. Ở nhân gian nếu được đa số người biết
tu chuyển nghiệp thì, nhân gian không cầu hạnh phúc mà hạnh phúc cũng tự đến. Biết
tu chuyển nghiệp thì hiện tại được an lành, tương lai cũng vui vẻ.
Tuy còn luân hồi, song người biết tu dừng nghiệp và chuyển nghiệp hằng đến
những nơi vui vẻ cao sang. Ngược lại, kẻ buông lung ba nghiệp làm ác thì thường tới
lui những nơi đau khổ cơ cực. Như nhân loại hiện sống trên quả địa cầu này, có những
nơi vui tươi sung sướng, cũng có những nơi đau khổ nghèo nàn, đến trong một nước
một xứ cũng vẫn có kẻ khổ người vui. Quan sát qua những cảnh tượng ấy, chúng ta
thấy tùy nghiệp duyên gây tạo, chịu khổ vui sai biệt của chúng sanh thật quá rõ ràng.
Mặc dù thế, muốn giúp sức mạnh cho việc tu dừng nghiệp và chuyển nghiệp
được kết quả viên mãn, điều kiện tiên quyết phải Qui y Tam Bảo và giữ gìn năm giới.
Qui y là đặt định hướng cho cả cuộc đời của mình. Chúng ta tập tu dừng nghiệp
và chuyển nghiệp để nhằm mục đích gì? Phải chăng vì muốn tiến theo gót chân của
đức Phật, sống theo chánh pháp của Ngài, nương sự hướng dẫn của chư Tăng, để cuộc
sống của chúng ta càng ngày càng vươn cao. Suốt đời chúng ta nhằm thẳng mục tiêu
ấy mà tiến, không còn thái độ ngại ngùng chần chờ, dũng cảm cương quyết vượt mọi
trở ngại, đến được mục tiêu mới thôi. Được vậy mới đúng tinh thần Qui y Tam Bảo,
tức là xứng đáng sự trở về nương tựa Phật, Pháp và Tăng.
Giới luật là hàng rào ngăn chận ba nghiệp khỏi rơi vào hố tội lỗi. Gìn giữ năm
giới là trạm nghỉ chân đầu trên con đường tu dừng nghiệp. Thiếu trạm nghỉ chân này,
chúng ta không đủ sức khỏe leo lên ngọn núi thiện nghiệp an toàn. Năm giới cũng là
nấc thang đầu trên cây thang giải thoát. Mọi sự an lành siêu thoát đều bắt nguồn từ
năm giới. Cho nên là Phật tử phải xem trọng và tuân giữ năm giới, như người gìn giữ
hòn ngọc quí, trong khi đi xuyên qua bọn người bất lương.
Bởi qui y giữ giới có tánh cách quan yếu như thế, nên mọi người muốn trở
thành Phật tử trước phải phát nguyện qui y Tam Bảo và gìn giữ năm giới. Đầy đủ qui
giới rồi, chúng ta mới có thể tiến tu lên các pháp môn khác.
Tu ra khỏi luân hồi (giải thoát)
Chúng ta đã biết chủ động lực trong vòng luân hồi là nghiệp, thân miệng ý là
nơi xuất phát nghiệp, nghiệp còn thì còn luân hồi, nghiệp sạch thì hết luân hồi. Nhưng
trong ba nghiệp, ý nghiệp là chủ động, vì có ý nghĩ mới sai khiến miệng nói thân làm.
Muốn sạch nghiệp, chúng ta trước phải lo tảo thanh ý nghiệp. Không chịu dọn dẹp ý
nghiệp, chỉ lo tu tập thân miệng, là làm việc ngọn ngành.
Thuở xưa, Tổ Hoài Nhượng ở Nam Nhạc thường thấy Thiền sư Đạo Nhất (Mã
Tổ) ra tảng đá ngồi thiền suốt ngày. Tổ đến hỏi: Đại đức ngồi thiền để làm gì? Đạo
Nhất thưa: Để làm Phật. Hôm sau, Tổ lấy hòn gạch đến trên phiến đá bên cạnh tảng đá
Đạo Nhất ngồi thiền, Tổ mài. Đạo Nhất thấy lạ hỏi: Thầy mài gạch để làm gì? Tổ đáp:
Mài để làm gương. Đạo Nhất thưa: Mài gạch đâu thể làm gương được? Tổ bảo: Ngồi
thiền đâu thể thành Phật được. Đạo Nhất hỏi: Vậy làm thế nào mới phải? Tổ bảo: Như
trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh xe là phải, đánh trâu là phải? Đạo Nhất lặng thinh.
Xe là cái bị động, trâu là chủ động. Muốn điều khiển xe đi phải nhằm thẳng cái
chủ động thôi thúc nó. Cắm đầu đánh đập thôi thúc cái bị động chỉ là việc phí công vô
ích. Thân miệng là cái bị động, ý là chủ động, không chịu thúc liễm ý, cố kềm thân
ngồi ngay thẳng hay khiến miệng đọc tụng mãi, cũng là việc không công. Thúc liễm
kềm hãm ý đâu hạn cuộc hình thức ngồi hay đứng, mà cả bốn oai nghi, đi đứng ngồi
nằm, đều phải theo dõi luôn. Hằng theo dõi như thế, khả dĩ chận đứng được ý nghiệp.
Ý nghiệp dừng lặng rồi, thân nghiệp, khẩu nghiệp theo đó được thanh tịnh.
Thế nên, những phương pháp tu trong đạo Phật như: tụng kinh, trì chú, niệm
Phật, tọa thiền... đều nhắm thẳng chận đứng ý nghiệp. Các vị Tôn túc thường dạy:
“Tụng kinh không loạn tưởng mới đầy đủ phước đức, trì chú tâm không xao động mới
linh nghiệm, niệm Phật nhất tâm mới được vãng sanh, tọa thiền tâm lặng lẽ mới được
chánh định.” Không loạn tưởng, tâm không xao động, nhất tâm, tâm lặng lẽ đều là
trạng thái dừng lặng của ý nghiệp. Tuy pháp tu có thô tế khác nhau, song cứu kính đều
gặp nhau ở chỗ dẹp sạch ý nghiệp. Đứng về mặt cứu kính nhìn nhau, chúng ta dung
thông tất cả pháp tu không thấy gì chướng ngại. Từ cửa phương tiện phê bình nhau,
chúng ta thấy dường như có mâu thuẫn lẫn nhau. Cho nên người thông là nhìn đến chỗ
cứu kính, kẻ hạn cuộc chỉ thấy ở phương tiện. Phật pháp như ngôi nhà nhiều cửa, bất
luận từ cửa nào miễn vào được trong nhà đều gặp nhau, đồng chứng kiến những sự vật
hiện có như nhau. Băn khoăn thắc mắc tại sao người đó đi cửa kia không đi cửa này,
hoặc cố tình khuyến dụ họ trở lại đi cửa này, đừng đi cửa kia, là tâm trạng của kẻ học
Phật sơ đẳng. “Hãy tự do chọn lấy một cửa nào thuận tiện với vị trí đang đứng, cố
gắng tiến vào nhà sẽ được lợi ích”, đây là lời khuyên của người thông suốt.
Phạm vi quyển sách này, chúng tôi chỉ giải thích đơn giản về hai phương pháp
Niệm Phật và Tu Thiền. Nói khác đi là lối tu của Tịnh độ tông và Thiền tông, để hành
giả nương theo đó tiến tu giải thoát luân hồi sanh tử.
Phương pháp niệm Phật
Phương pháp niệm Phật có Quán tưởng niệm Phật và Trì danh niệm Phật. Quán
tưởng niệm Phật căn cứ kinh Quán Vô Lượng Thọ, Trì danh niệm Phật căn cứ kinh Adi-
đà. Trì danh niệm Phật được đại đa số Tăng Ni và Phật tử tu tập, nên ở đây riêng
giải thích.
Pháp môn tu tập nào của Phật dạy đều có chia Phương tiện và Cứu kính.
Phương tiện ví như cửa cổng, cứu kính ví như ông chủ nhà. Muốn gặp ông chủ nhà,
trước tiên chúng ta phải từ cửa cổng đi vào nhà. Nếu không nương cửa cổng thì khó
vào đến nhà, huống là gặp ông chủ. Cửa cổng là điều kiện tiên quyết để gặp ông chủ,
thiếu điều kiện này thì sự mong muốn khó thành đạt. Phương pháp Trì danh niệm Phật
muốn được kết quả viên mãn, trước phải khéo ứng dụng phương tiện của nó.
Thế nào là phương tiện của pháp Trì danh niệm Phật?
Phương tiện Trì danh niệm Phật là “dùng tình cảm để dẹp tình cảm”, nói cụ thể
hơn “dùng gai lể gai”. Cho nên cửa phương tiện của nó là Ưa (hân) và Chán (yếm)
hay hồi hướng. Bởi vì phàm phu chúng ta hằng đắm mê theo dục lạc thế gian, thường
ngày tâm niệm cứ tung tăng đuổi theo dục lạc, muốn dừng tâm niệm lại, song không
tài nào dừng nổi. Thấy thế, Phật thương xót vì chúng ta nói kinh A-di-đà, chủ yếu
trong ấy, trước diễn tả cảnh trang nghiêm đẹp đẽ ở cõi Cực Lạc, sau chê trách sự khổ
sở nhơ nhớp ở cõi Ta-bà, khiến chúng sanh sanh tâm ưa thích cõi Cực Lạc, chán ngán
cõi Ta-bà. Tâm ưa chán đến cao độ thì niệm danh hiệu Phật dễ được nhất tâm. Nếu
không biết ưa chán, dù có niệm Phật cũng chỉ niệm trong loạn tưởng mà thôi. Thế nên,
Ưa Chán là cửa cổng đi vào ngôi nhà Cực Lạc.
Ưa cái gì?
Thể theo kinh A-di-đà, đức Phật Thích-ca định nghĩa cõi Cực Lạc là:
“Chúng sanh trong cõi này không có các thứ khổ, chỉ thọ các điều vui, nên gọi
là Cực Lạc.”
Lại nữa, cõi Cực Lạc nào là hàng rào, lưới giăng, hàng cây đều làm bằng bốn
thứ báu – bạc, vàng, lưu ly, pha lê - ao nước rất ngon lành đầy đủ tám thứ công đức,
trên bờ ao có nhà lầu xây bằng bảy báu -bạc vàng lưu ly pha lê xa cừ xích châu mã não
- dưới ao có hoa sen lá to bằng bánh xe, hoa nở phát ánh sáng tùy theo sắc và nhả
hương thơm ngào ngạt, có nhạc trời, có mưa hoa, có chim hót thành tiếng nói pháp ...
Đức Phật chủ cõi Cực Lạc hiệu A-di-đà - Vô lượng quang, Vô lượng thọ - đang
vì chúng nói pháp. Dân chúng ở cõi này toàn là hàng Thanh văn, Bồ-tát tu hành đều
được không còn lui sụt và có những vị chỉ còn một đời được bổ đi làm Phật ..., cho nên
ở đây thảy đều là hạng người lành bậc thượng.
Cõi này chứa đựng đầy đủ những yếu tố mà chúng ta đang ưa thích, nào là
thuần vui không khổ, trang nghiêm đẹp đẽ, bảy báu dẫy đầy, thầy thánh bạn hiền, sống
lâu khỏe mạnh, ăn mặc tùy ý, lui tới thong dong ... Những hình ảnh này khiến chúng ta
khao khát ước mơ, đó là Ưa.
Chán cái gì?
Phần sau kinh A-di-đà, đức Phật Thích-ca nói:
“Chư Phật ở mười phương cũng khen ngợi ta rằng: Phật Thích-ca Mâu-ni hay
làm được việc ít có khó làm, hay ở thế giới Ta-bà xấu ác đầy dẫy năm thứ nhơ nhớp -
kiếp người nhơ nhớp, kiến chấp nhơ nhớp, phiền não nhơ nhớp, chúng sanh nhơ nhớp,
mạng sống nhơ nhớp - được thành Phật, vì chúng sanh nói pháp khó tin.”
Đó là Phật chê trách cõi Ta-bà nhơ nhớp xấu xa khiến chúng ta nhàm chán xa
lánh. Hai bên đã trưng bày rõ ràng trước mắt chúng ta, một bên thì tốt đẹp trang
nghiêm sang trọng vui vẻ, một bên nhơ nhớp xấu xa khổ đau, để chúng ta sanh tâm ưa
thích bên vui, chán ngán bên khổ. Đó là cửa cổng ưa chán để tiến vào ngôi nhà Cực
Lạc.
Vì ưa thích say mê cảnh đẹp cõi Cực Lạc, chán ngán cái xấu xa nhơ nhớp cõi
Ta-bà, nên tâm phiền rộn lăng xăng chạy theo dục lạc thế gian của chúng ta dần dần
khô lạnh, chừng đó ứng dụng pháp tu Trì danh niệm Phật mới thành công. Song muốn
tâm ưa chán lên đến cực điểm, hằng ngày chúng ta phải phát nguyện hồi hướng.
Hồi hướng thế nào?
Hồi là xoay lại, hướng là hướng đến. Chúng ta xoay sự ưa thích quyến luyến
nơi cõi Ta-bà hướng đến cõi Cực Lạc để chán cõi Ta-bà, mến ưa Cực Lạc. Ví như:
Mỗi khi ra đường thấy rác rến sình lầy nhơ nhớp, chúng ta khởi nghĩ: Cõi Ta-bà
thật là bẩn thỉu nhơ nhớp đáng chán, cõi Cực Lạc toàn bảy báu trang nghiêm trong
sạch đáng ưa thích. Ta nhất định phát nguyện sanh về Cực Lạc để khỏi thấy sự nhơ
nhớp này nữa. Đó là hồi nhơ nhớp hướng trong sạch.
Hoặc khi chúng ta gặp những nghịch cảnh bức bách khổ đau liền khởi nghĩ: Cõi
Ta-bà nhiều đau khổ bất như ý, ở Cực Lạc hoàn toàn an vui mãn nguyện. Ta phải chán
cõi này, mong mỏi được vãng sanh về cõi Cực Lạc mới toại nguyện. Đây là hồi đau
khổ hướng Cực Lạc.
Hoặc khi ra chợ hay xóm làng nghe những lời chửi bới nguyền rủa, chúng ta
khởi nghĩ: Ở Ta-bà thường nghe những lời xấu ác, cõi Cực Lạc hằng nghe tiếng nhạc
trời, tiếng chim nói pháp... ta rất chán ngán cõi Ta-bà, nguyện sanh về Cực Lạc để
hằng ngày được nghe pháp. Đây là hồi phiền não hướng về Bồ-đề.
Hoặc trong tình huynh đệ bằng hữu có xẩy ra việc phản trắc, chúng ta khởi
nghĩ: Ở cõi Ta-bà bạn bè không thật tốt khiến ta phiền não, cõi Cực Lạc toàn là người
lành bậc thượng đáng kính mến. Ta nhất định nguyện sanh về bên ấy để được làm bạn
với những người toàn thiện. Đây là hồi bạn ác hướng bạn lành.
Hoặc vì sanh kế vất vả nhọc nhằn mà kiếm miếng ăn không đủ, tấm mặc chẳng
lành, chúng ta khởi nghĩ: Ở Ta-bà làm khổ nhọc mà không đủ ăn không có mặc, cõi
Cực Lạc muốn ăn có ăn muốn mặc có mặc, khỏi lo lắng mệt nhọc. Ta quyết định
nguyện sanh về Cực Lạc để được ăn no mặc ấm mà không nhọc nhằn. Đây là hồi đói
rách hướng no ấm...
Tóm lại, mọi trường hợp mọi hoàn cảnh vừa xảy đến với chúng ta, chúng ta
khéo lợi dụng để hồi hướng về Cực Lạc, khiến tâm chán Ta-bà càng ngày càng mãnh
liệt, lòng ưa Cực Lạc càng lúc càng tăng trưởng. Đó là chúng ta khéo tận dụng cánh
cửa phương tiện ưa chán tiến vào ngôi nhà Tịnh Độ.
Thế nào là cứu kính của pháp Trì danh niệm Phật?
Cũng kinh A-di-đà dưới phần giới thiệu cõi Cực Lạc, đức Phật Thích-ca nói:
“Nếu có người thiện nam thiệïn nữ nghe nói về Phật A-di-đà, chuyên trì danh
hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày nhất
tâm không loạn, người ấy khi chết được Phật A-di-đà và Thánh chúng hiện ở trước.
Người này khi chết tâm không điên đảo liền được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Phật
A-di-đà.”
Người muốn vãng sanh về cõi Cực Lạc phải giữ niệm danh hiệu đức Phật A-diđà,
hoặc một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn, nhất định được vãng sanh
về cõi Cực Lạc. Bởi vì hành giả đã chán ngán cõi Ta-bà lắm rồi, một lòng hâm mộ cõi
Cực Lạc, nên dùng sáu chữ Nam-mô-a-di-đà Phật làm công phu tu trì hằng ngày. Dùng
sáu chữ này làm sợi dây xiềng niệt cổ con khỉ ý thức của mình, bắt buộc nó phải nằm
im một chỗ. Tức là đi đứng ngồi nằm làm việc hay nghỉ ngơi đều niệm danh hiệu Phật,
hoặc niệm thầm, hoặc niệm ra tiếng tùy hoàn cảnh. Kiên trì nắm giữ danh hiệu Phật
không lơi lỏng, lâu ngày ý thức sẽ kiệt quệ từ từ, cho đến một ngày nào đó sẽ lặng mất.
Đó là niệm Phật được nhất tâm. Niệm Phật nhất tâm thì ý nghiệp được lắng sạch, thân
nghiệp khẩu nghiệp cũng theo đó sạch luôn. Tức ứng hợp với câu “tam nghiệp hằng
thanh tịnh đồng Phật vãng Tây Phương”. Ba nghiệp sạch hết, còn động lực nào lôi kéo
chúng ta đi vào đường luân hồi?
Song chúng ta cần giản trạch nhất niệm và nhất tâm. Niệm Phật chỉ còn nhất
niệm, được vãng sanh Tịnh độ là sự. Niệm Phật đến nhất tâm, thấy Tự tánh Di-đà duy
tâm Tịnh độ là lý.
Chỉ chuyên trì sáu chữ Di-đà không có niệm nào khác chen vào, mượn một
niệm dẹp tất cả niệm. Duy giữ một niệm niệm Phật, đi đứng ngồi nằm liên tục không
gián đoạn, đến đây là nhất niệm. Nương niệm này cầu vãng sanh về cõi Phật Di-đà
chắc chắn sẽ mãn nguyện, là sự niệm Phật.
Dùng lục tự Di-đà làm diệu dược trị mọi chứng bệnh loạn tưởng, khi bệnh lành
thuốc cũng bỏ. Tức là niệm Phật đến chỗ vô niệm, chỉ còn nhất tâm chân như, là nhất
tâm. Niệm Phật đến vô niệm, thì thấy tự tánh là Di-đà, bản tâm là Tịnh độ, hiện bày
trước mắt. Tự tánh của mình xưa nay hằng giác, nên nói “Vô lượng quang”. Tự tánh
chưa từng sanh diệt, thoát ngoài vòng thời gian, nên nói “Vô lượng thọ”. Bản tâm
mình xưa nay hằng thanh tịnh do vọng tưởng dấy động nên bị nhiễm ô, theo nghiệp
dẫn đi trong lục đạo, vọng tưởng lắng sạch chỉ còn một tâm thanh tịnh là tịnh độ, nên
nói “TÂM TỊNH THÌ ĐỘ TỊNH”. Đây là lý niệm Phật, đúng với tinh thần Đại thừa
Phật giáo, cùng các pháp tu khác đồng gặp nhau.
Song buổi đầu, người niệm Phật cần đầy đủ niềm tin vào lời giới thiệu của đức
Thích-ca, trông cậy hẳn vào cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà, gá tâm nơi đó để gầy
dựng, lòng ưa chán. Không cần lý luận cõi Cực Lạc có hay không, chỉ tin quyết rằng
đức Phật Thích-ca không dối gạt ta, y theo lời Ngài dạy tu hành chắc chắn sẽ được lợi
ích lớn. Đủ lòng tin rồi, chuyên tâm trì niệm ngày đêm không lơi lỏng, chẳng kể ngày
giờ năm tháng, chỉ khi nào được nhất tâm mới thôi. Đồng thời đối duyên xúc cảnh
khéo phát nguyện hồi hướng về Cực Lạc, hành giả đầy đủ lòng tin (tín), chuyên tâm trì
niệm (hạnh), thường xuyên phát nguyện hồi hướng (nguyện) là đầy đủ điều kiện tu trì
pháp môn Trì danh niệm Phật.
Tuy nhiên, nhìn pháp môn tu nào, chúng ta phải nhìn thẳng cứu kính, đừng mắc
kẹt ở phương tiện. Vì phương tiện là tùy cơ, căn cơ chúng sanh có cao thấp sai biệt,
đức Phật vì lợi ích khắp quần sanh, nên lập cửa phương tiện có nhiều sai biệt. Chúng ta
đừng chấp vào trình độ mình để phê bình kẻ khác, cũng đừng vin khả năng kẻ khác trở
lại khinh rẻ mình. Phải biết căn cơ trình độ mình, chọn lấy pháp tu thích hợp với mình,
là người khôn ngoan nhất.
Phương pháp tu thiền
Tu Thiền là lối tu hướng thẳng vào nội tâm, dẹp sạch vọng tưởng suy tính của
mình. Muốn dẹp sạch vọng tưởng cũng có chia phương tiện và cứu kính.
Phương tiện của Thiền là “dùng trí tuệ dẹp tình cảm”. Tức là nhìn thẳng vào sự
vật quan sát phân tích để thấy sự tạm bợ giả dối của chúng, khiến lòng lạnh nhạt không
còn phiền rộn say mê. Do đó, hành giả dụng công tu tập tâm để được an định.
Thiền có nhiều pháp khác nhau, có thiền ngoại đạo, thiền Phật giáo. Trong thiền
Phật giáo đại loại chia làm hai: Thiền đối trị và Thiền tuyệt đối.
Thiền đối trị:
Tùy theo sự đắm nhiễm của chúng sanh, Phật dạy phương pháp đối trị, như theo
bệnh cho thuốc. Nếu hành giả có bệnh gì nặng, vị Thiện tri thức phải biết rõ để chỉ dạy
pháp tu đối trị đúng bệnh. Song phải khéo ứng dụng phương tiện của Thiền, sự tu hành
mới mong đạt kết quả như nguyện.
Phương tiện của Thiền đối trị là, nhìn thẳng trên hình tướng sự vật thấy rõ nó
sanh diệt vô thường và biết thật do nhân duyên hòa hợp mà có. Dùng trí tuệ quán sát
vạn vật vô thường, duyên hợp, không có cái gì lâu bền và nguyên thể. Lòng đắm
nhiễm nhân đó từ từ lắng dịu. Tiếp sau, chúng ta mới ứng dụng lối tu đối trị.
Pháp tu đối trị có nhiều môn, hành giả nặng về bệnh gì thì dùng môn đó đối trị.
Như người nhiều vọng tưởng dùng “Sổ tức quán” đối trị, người nặng sắc dục dùng
“Bất tịnh quán” đối trị, người thường nóng giận dùng “Từ bi quán” đối trị, người quá
ngu si dùng “Giới phân biệt quán” đối trị v.v... Trong những phương pháp đối trị đều
dùng đề mục để tham cứu quán sát lâu ngày thuần thục tâm an định. Ở đây chỉ đơn cử
một pháp phổ thông nhất là “Sổ tức quán”.
Nếu người nhiều vọng tưởng nên tu pháp thiền “sổ tức”. Sổ tức là đếm hơi thở.
Đây là pháp tu thông dụng nhất trong giới tu thiền. Vì vọng tưởng là bệnh chung của
tất cả chúng sanh, muốn ngăn chận nó trước phải nhờ phương pháp đếm hơi thở. Hơn
nữa, người mới tập tu thiền trước phải điều hòa hơi thở, hơi thở là mạch sống thiết yếu
nhất của con người. Điều hòa được hơi thở là bước thành công đầu của sức khỏe và an
tâm. Thân khỏe mạnh tâm an ổn, hành giả mới nỗ lực tiến thẳng vào pháp môn thâm
diệu được.
Pháp sổ tức là tên pháp đầu của “Lục diệu pháp môn”. Trong sáu pháp môn
nhiệm mầu này, đầu tiên là Sổ tức (đếm hơi thở), kế Tùy tức (theo hơi thở), Chỉ (dừng
lại một chỗ), Quán (quán sát), Hoàn (xem xét trở lại), Tịnh (lóng lặng trong sạch).
Hành giả ứng dụng pháp thiền “đếm hơi thở” phải tu từ thô đến tế, đầy đủ sáu pháp
mới được viên mãn. Sáu pháp này có công hiệu dừng lặng mọi vọng tưởng một cách
thần diệu, nên gọi là Lục Diệu Pháp Môn. Ở đây chỉ giải thích đơn giản sáu pháp như
sau:
- Sổ tức. Hành giả sau khi ngồi ngay thẳng đúng pháp và sử dụng lối nhập thiền
đầy đủ, liền ứng dụng pháp đếm hơi thở để trụ tâm. Hành giả hít hơi vô cùng, thở ra
sạch, đếm một. Hít vô cùng thở ra sạch đếm hai. Mãi thế, đến mười bỏ, đếm trở lại
một. Nếu giữa chừng tâm tán loạn quên số phải đếm lại một. Phải chú tâm vào số và
hơi thở một cách tinh tế, tâm vừa xao lãng liền chỉnh lại ngay. Nếu tâm xao xuyến khó
kềm, nên dùng cách đếm nhặt hơn. Hít hơi vô đến cùng đếm một, thở ra sạch đếm hai.
Đếm đến mười bỏ, trở lại một, như cách đếm ở trên. Đến khi nào ngồi nửa giờ, một
giờ mà đếm không lộn, không quên hơi thở, là tâm đã tạm yên. Liền tiến lên pháp
khác:
- Tùy tức. Hành giả bỏ không đếm số nữa, chỉ chú tâm theo hơi thở. Hơi thở
vào đến đâu biết đến đó, hơi thở ra cũng biết rành rõ. Hơi thở dài, ngắn, lạnh, nóng đều
biết rõ mồn một. Theo dõi hơi thở, như người chủ nợ theo dõi con nợ vậy. Khi ngồi
thời gian bao lâu, tâm cũng chỉ duyên theo hơi thở không xao lãng, tức là tâm an định.
Cần chuyển lên pháp kế:
- Chỉ. Hành giả không theo hơi thở vô ra nữa, tâm dừng trụ tại mũi để xem hơi
thở ra vào. Tâm an trụ một chỗ không xao động, hằng thấy hơi thở ra vào không lửng
quên. Suốt thời gian ngồi, tâm vẫn an trụ, không loạn động, nên tiến lên pháp tế hơn:
- Quán. Hành giả không an trụ yên lặng, khởi quán sát hơi thở. Hơi thở vô rồi ra
không dừng trụ, tức là vô thường. Thân mạng nương hơi thở mà sống, nên cũng đồng
là vô thường. Hơi thở ra vào thời gian thật ngắn ngủi, thân mạng tựa vào hơi thở cũng
chợt có chợt không. Hơi thở vào không có chỗ nơi, hơi thở ra không xứ sở. Chỗ nơi xứ
sở không thì, hơi thở làm gì thật có. Thân mạng nương hơi thở mà còn, thật quá tạm bợ
giả dối. Quán sát như thế thì tâm chấp thật ngã tan biến. Đã không còn chấp thân là
thật là lâu dài, cần phải sang pháp khác:
- Hoàn. Hành giả chiếu soi lại tâm hay quán sát trước, xem nó ra sao và ở đâu?
Soi tới soi lui vẫn không thấy hình bóng nó. Hằng chiếu soi lại tâm năng quán, tâm này
tự lặng lẽ, tức là an định. Đến đây phải tiến nấc chót:
- Tịnh. Hành giả buông cả chiếu lại tâm năng quán, chỉ còn một tâm thanh tịnh
tỉnh sáng. Không loạn tưởng, chẳng hôn trầm, thuần một tâm lặng lẽ tỉnh sáng. Hằng
sống với cái tỉnh sáng này, tức là chỗ cứu kính của Lục Diệu Pháp Môn. Đến đây dòng
ý thức sanh diệt đã tan biến, những vọng nghiệp do ý thức gây tạo cũng trong sạch,
còn gì phiền rộn lôi cuốn hành giả đi vào đường luân hồi.
Hành giả khéo ứng dụng đúng mức Lục Diệu Pháp Môn là đầy đủ diệu dụng
thoát khỏi luân hồi sanh tử. Song lúc tu hành ắt còn gặp nhiều khó khăn trở ngại và
những tướng trạng lạ phát hiện, hành giả cần được thầy có thực nghiệm hướng dẫn,
mới hy vọng tu tiến dễ dàng.
Thiền tuyệt đối:
Pháp Thiền này do Phật Thích-ca ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa lên, Tổ
Ca-diếp cười chúm chím rồi được truyền tâm ấn. Truyền thừa mãi đến vị Tổ thứ hai
mươi tám là Bồ-đề-đạt-ma, Ngài sang Trung Quốc truyền cho Tổ Huệ Khả, lan dần
sang Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản và tiếp tục đến hiện nay. Đến Trung Quốc, Tổ
Đạt-ma dõng dạc tuyên bố pháp này là:
“GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN, TRỰC CHỈ NHÂN TÂM, KIẾN TÁNH
THÀNH PHẬT.” (Truyền ngoài giáo lý, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật.)
Qua câu tuyên bố của Ngài, chúng ta thấy rõ tánh cách tuyệt đối của nó.
Thiền này tạm nói có hai lối tu: hoặc từ KHÔNG vào CÓ, hoặc từ CÓ ra
KHÔNG. Từ không vào có là, trước biết rõ tất cả pháp giả dối không thật, sau nhận ra
chân tâm chân thật là thực thể tuyệt đối bất sanh bất diệt, hằng sống với nó là đạt đạo.
Từ có ra không là, trước nhận ra ông chủ chân tâm, sau nhìn ra các pháp đều hư giả
tạm bợ, thường sống với ông chủ của mình là thấy tánh thành Phật.
- Từ không vào có.
Hành giả dùng trí tuệ Bát-nhã soi thấy sự vật do duyên hợp mà có, tự tánh là
không, không có thật tánh, chỉ có giả tướng duyên hợp. Nhìn trên giả tướng thấy rõ tự
tánh của nó là không, tánh không nên duyên hợp giả có. Duyên hợp tạm gọi là sanh,
duyên tan tạm gọi là diệt. Sanh diệt không có thực thể, chỉ là việc duyên hợp duyên
tan. Sanh không thật, diệt không thật thì khắp nhân gian còn vật nào thật đâu? Hằng
dùng trí tuệ chiếu soi như thế, thấy tất cả sự vật quả là cái bóng hòn bọt, tự thể là
không. Thế nên, cửa thiền người đời gọi là cửa KHÔNG.
Nương cửa Bát-nhã tiến vào trong nhà thấy được ông chủ là thành công. Tức là
từ cái giả nhận ra lẽ thật, dứt sạch vô minh ngàn đời, sống với trí tuệ viên mãn là giác
ngộ giải thoát. Lầm lẫn những giả tướng cho là thật, bỏ quên cái thật muôn đời là vô
minh. Giả tướng thì sanh diệt, thực thể chẳng hề sanh diệt, nên nhận ra và sống được
với thực thể, là giải thoát luân hồi sanh tử. Đây là “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh
thành Phật”. Tánh là chỉ thực thể sẵn có nơi mọi chúng sanh, không do tạo tác thành
không do tu tập được. Người khéo biết mọi cái giả rồi, tự nhận ra thực thể này, hằng
sống với nó là “thấy tánh thành Phật” hiển bày rành rõ nơi đây vậy.
Song nói pháp này mà không có pháp, vì nó không còn đối đãi đối trị, nên nói
“pháp vốn không pháp” (pháp bản vô pháp). Không còn khuôn trong hình thức nào.
Nên không có cách “nhập, trụ, xuất”, như các pháp thiền khác. Đọc hết các tập sách
nói về thiền này, chúng ta không tìm đâu thấy một phương thức tu tập thứ tự. Vì thế,
đừng đòi hỏi một phương thức tu tập, hành giả cần tận dụng chiếc gươm Bát-nhã dọn
sạch khu rừng kiến chấp thì Bảo sở hiện bày. Băn khoăn tìm kiếm phương pháp tu tập,
chúng ta sẽ hoàn toàn thất vọng. Hãy nghe câu hỏi của Tổ Huệ Khả cầu xin nơi Tổ
Đạt-ma:
- Tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con phương pháp an tâm?
- Đem tâm ra, ta an cho.
- Con tìm tâm không được.
- Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Tổ Huệ Khả lãnh hội yếu chỉ.
Đọc đoạn sử này, chúng ta hoàn toàn vô vọng, tìm đâu ra “pháp an tâm”. Lời
cầu xin tha thiết của Tổ Huệ Khả, đáp lại bằng câu nửa hư nửa thực của Tổ Đạt-ma,
khiến chúng ta bối rối khó hiểu. Song ngay lúc đó, Tổ Huệ Khả lãnh hội được. Thật là
việc lạ đời ít có.
Trong lúc tọa thiền bị vọng tưởng dấy khởi nhiễu loạn khiến tâm bất an. Băn
khoăn tìm kiếm một phương pháp an tâm là một điều tối cần yếu. Cho nên nghe ở đâu
có bậc thiện tri thức tu thiền, liền khăn gói lên đường đến cầu pháp an tâm. Nếu học
được pháp này hay pháp nọ để an tâm, rốt cuộc cũng chỉ là lấy nóng trừ lạnh, dùng
sáng đuổi tối mà thôi. Tất cả thứ đối đãi ấy đều là tướng giả dối không thật. Tổ Đạt-ma
không dạy theo lối ấy, chỉ bảo “đem tâm ra, ta an cho”. Nhìn thẳng lại cái tâm nhiễu
động lăng xăng kia, nó biến mất không còn tăm dạng. Tổ Huệ Khả đành thưa “con tìm
tâm không được”. Tổ Đạt-ma chỉ cần nói thêm một câu “ta đã an tâm cho ngươi rồi”.
Tổ Huệ Khả liền thấy lối đi.
Từ thuở nào, chúng ta cứ tin rằng cái tâm suy nghĩ lăng xăng là thật có, hôm
nay tìm lại không thấy bóng dáng, mới biết nó là không. Biết nó không thì nó đâu còn
khả năng lôi cuốn quấy nhiễu chúng ta nữa. Chúng dấy lên, ta không theo, tâm chẳng
an là gì? Sở dĩ tâm ta chẳng an, vì vọng vừa dấy lên ta tùy thuận theo chúng, nghĩ việc
này chưa xong, tiếp đến việc khác, chạy mãi không dừng. Nay đây, chúng vừa dấy lên,
ta biết là không, không theo, tự nó lặng mất, quả là “Diệu thuật an tâm”. Không nương
một pháp, chẳng mượn một tướng, nhìn thẳng mặt vọng tưởng tự nó biến tan như mây
khói, đây là trực chỉ không nương phương tiện. Ai khờ gì đuổi theo cái hư giả, cũng
không khờ gì cố tình trừ diệt, chỉ cần biết nó hư ảo không theo là đủ. Yếu chỉ an tâm
của Tổ Đạt-ma là ở chỗ đó.
Có vị Tăng hỏi Thiền sư Tông Mật (Khuê Phong): Thế nào là tu? Sư đáp: “Biết
vọng tức là tu.” Thật là đơn giản mà quá đầy đủ. Biết vọng không theo, tâm tự yên
lặng, là diệu thuật của môn thiền này. Tuy nói tu mà không tu, vì có trừ có dẹp, có bồi
bổ gì đâu? Chẳng qua dùng trí tuệ soi thấu cái giả dối, tâm tự lặng lẽ tạm gọi là tu.
Pháp tu không tu này, mở màn bằng trí tuệ, chung cuộc sống với tâm thể nhất
như. Thiền sư Duy Tín đời Tống nói: “Trước ba mươi năm, tôi thấy núi sông là núi
sông. Sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải núi sông. Nay
được chỗ dứt sạch, thấy núi sông là núi sông.”
Trước ba mươi năm là lúc Sư chưa biết tu thiền, cái nhìn của Sư cũng như tất cả
cái nhìn của phàm phu khác: Thấy núi là thật núi, thấy sông là thật sông, thấy người là
thật người... Sau khi được thiện hữu tri thức chỉ dạy, Sư nhìn núi sông không còn thật
núi sông nữa, mà là hợp thể giả dối do các duyên chung hợp, tự tánh rỗng không. Sư
mở mắt trí tuệ nhìn mọi vật, mãi đến nay mọi nhiễm ô dính mắc đều dứt sạch, chỉ hiện
bày lồ lộ một tâm thể thanh tịnh nhất như. Đến đây, Sư nhìn núi sông là núi sông, vì đã
dứt sạch mọi kiến chấp, mọi phân biệt. Quả là kẻ đi đến đích của quãng đường chim
vậy.
Chúng ta sẽ thấy lối tu này cụ thể hơn, qua lời thầy Tri viên hỏi Thiền Sư
Duyên Quán:
- Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?
- Biết được chẳng phải oan gia.
- Sau khi biết được thì sao?
- Biếm đến nước vô sanh.
- Nước vô sanh đâu không phải chỗ y an thân lập mạng?
- Nước chết không chứa được rồng.
- Thế nào là nước sống chứa rồng?
- Dậy mòi chẳng thành sóng.
- Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì thế nào?
Sư bước xuống giường thiền, nắm đứng thầy Tri viên bảo:
- Chớ nói ướt góc ca-sa của lão Tăng.
Giặc nhà khó giữ là vọng tưởng do sáu chú giặc (lục tặc) dẫn vào. Biết vọng
tưởng là giả dối, nó không hại ta được, trái lại ta đã điều phục chúng. Sau khi biết nó,
tự nó dừng lặng, càng lâu càng lặng là an trụ chỗ vô sanh. Nhưng đừng thấy đây là cứu
kính, mà phải chết chìm trong ấy, cần phải phấn phát tỉnh giác, hằng tỉnh sáng đầy đủ
diệu dụng mà không động, mới thật nước sống chứa rồng. Đến đây dù trời nghiêng đất
sụp cũng không lay động tâm thiền giả, đó là “không ướt góc ca-sa của lão Tăng”.
Thành quả của lối tu này, không phải được thần thông mầu nhiệm, biến hóa tự
tại, mà quí ở chỗ tám gió (bát phong) thổi chẳng động. Tám gió là:
Lợi - Được tài lợi tâm không xao xuyến.
Suy - Gặp suy hao lòng vẫn thản nhiên.
Hủy - Bị hủy nhục lòng không bực tức.
Dự - Được công kênh tâm vẫn như không.
Xưng -Được ngợi khen tâm vẫn bình thản.
Cơ - Bị chê bai lòng không biến đổi.
Khổ - Gặp đau khổ lòng vẫn an nhiên.
Lạc - Được việc vui tâm không xao động.
Cho đến, dù đối đầu với hoàn cảnh nào, gặp việc khó khăn gì, tâm vẫn như như
bất động, đây là thành công viên mãn của người tu thiền.
- Từ có ra không
Do nhận được chân tánh nơi mình, nhìn ra vạn vật đều là tướng giả dối do nhân
duyên hòa hợp. Chân tánh là thật tướng mà không tướng, rời cả nhân duyên và tự
nhiên, giác không tăng mê cũng chẳng giảm, còn nói gì là thường hay vô thường. Linh
minh tỉnh sáng, hằng có mặt nơi mọi chúng sanh, mà chúng sanh tự bỏ quên, chúng
sanh nhận được, gọi là Phật. Chúng ta hãy nghe Thiền sư Đại An hỏi Tổ Bá Trượng:
- Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?
- Thật là người cỡi trâu tìm trâu.
- Sau khi biết thế thì thế nào?
- Như người cỡi trâu về đến nhà.
- Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?
- Như người chăn trâu cầm roi dòm chừng, không cho nó ăn lúa mạ của người.
Sư lãnh hội ý chỉ.
Chúng ta đã có Phật mà không dám tự nhận, mãi chạy đi thưa hỏi, như người
cỡi trâu tìm trâu. Nhận được chân tánh nơi mình, không còn băn khoăn tìm kiếm, như
người cỡi trâu về đến nhà. Biết được chưa phải xong việc, cần bền chí chăm nom bảo
vệ cho nó thuần phục, như chú mục đồng cầm roi chăn trâu. Đây là yếu chỉ tu hành của
người trước nhận ra ông chủ.
Sau này, Thiền sư Đại An dạy chúng:
Cả thảy các ngươi đến Đại An này tìm cầu cái gì? Nếu muốn làm Phật, các
ngươi tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang nhà bên cạnh tìm, luống tự nhọc nhằn. Ví như
con nai khát nước mà chạy theo ánh nắng, biết bao giờ được khế hợp.
Cả thảy các ngươi mỗi người có hòn ngọc quí vô giá, từ cửa con mắt phóng
quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả
âm thanh lành dữ, sáu cửa ngày đêm hằng phóng quang sáng, cũng gọi là phóng quang
tam-muội. Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận bóng thân tứ đại. Nó là vật do trong ngoài
giúp đỡ không dám chinh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, dè dặt sợ
sảy chân...
Qua hai đoạn dạy chúng của Thiền sư Đại An, chúng ta thấy Phật tánh đã sẵn
nơi mình, khéo nhận là được, đừng chạy tìm cầu bên ngoài, càng tìm càng nhọc nhằn
vô ích. Phật tánh hiển lộ đầy đủ nơi sáu căn chúng ta, cần nhìn lại là thấy. Khổ nỗi,
chúng ta không khi nào dám nhận nó, mà hằng nhận thân tứ đại này là mình. Thân tứ
đại do duyên trong, ngoài giúp đỡ, thiếu duyên là nó hoại liền, như người gánh nặng đi
qua cây độc mộc kiều, hớ chân là té nhào. Quên cái chân thật, nhận cái giả dối thì phút
giây nào cũng lo âu sợ sệt, ngại cơn vô thường bất chợt đến với nó. Nhận được cái
chân thật bất biến, mọi sợ sệt lo âu đều tan mất, thì còn cái gì hại được chân tánh này,
quả là NIếT-BÀN HIệN TạI TRầN GIAN.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
cucgahoithui
Nguyên Soái
Nguyên Soái


Nam
Tổng số bài gửi : 6501
Age : 24
Registration date : 20/02/2013

Bài gửiTiêu đề: Re: Bước Đầu Học Phật-THÍCH THANH TỪ-Thường Chiếu Ấn Tống - PL. 2543 - 1999   Sun Jan 18, 2015 11:14 pm

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Thạch Cựu:
- Thế nào là hạt châu trong tay Địa Tạng?
- Trong tay ông lại có chăng?
- Con chẳng hội.
- Chớ dối đại chúng.
Sư nói tụng :
Bất thức tự gia bảo
Tùy tha nhận ngoại trần
Nhật trung đào ảnh chất
Cảnh lý thất đầu nhân.
Dịch:
Báu nhà mình chẳng biết
Theo người nhận ngoại trần
Giữa trưa chạy trốn bóng
Kẻ soi gương mất đầu.
Chúng sanh một bề chạy theo ngoại cảnh quên bẵng bản tâm. Chỉ cầu hỏi hạt
châu trong tay Bồ-tát Địa Tạng, quên lửng trong tay mình sẵn có hạt châu. Hạt châu ấy
theo dõi chúng ta như bóng theo hình, mặc dù ta lăn lộn sáu đường, lang thang trong
tam giới, hạt châu hằng có mặt trong túi áo chúng ta. Chúng ta si mê bỏ quên nó, như
chàng Diễn-nhã xem gương thấy bóng đầu mặt hiện trong gương, úp gương lại bóng
đầu mặt mất đi, hoảng la lên “tôi mất đầu”. Chàng ta phát cuồng ôm đầu chạy la “tôi
mất đầu”. Tất cả chúng ta cũng thế, hằng ngày cứ chạy theo vọng tưởng suy tính, có nó
là có mình, một khi vọng tưởng lặng xuống, hoảng la “mất mình”. Vọng tưởng là cái
chợt sanh chợt diệt, không cội gốc nơi chốn, mà chấp là thật mình. Khi vọng tưởng
lặng xuống, mọi công dụng thấy nghe hiểu biết vẫn nguyên vẹn, mà nói “mất mình”.
Thử hỏi ai là kẻ biết mất mình?
Khéo nhận ra ông chủ mới khỏi bị khách trần lừa gạt. Thiền sư Pháp Diễn nói:
“Ta có một vật chẳng thuộc phàm chẳng thuộc thánh, chẳng thuộc tà chẳng
thuộc chánh, muôn việc khi đến tự nhiên hiệu lệnh.”
Ông chủ của chính mình là thực thể tuyệt đối, không còn thấy có hai bên phàm
thánh chánh tà đối đãi. Tuy không có niệm phân biệt đối đãi, song xúc duyên chạm
cảnh liễu tri rành rõ. Ông chủ này chưa từng sanh chưa từng diệt, nên gọi là pháp thân
bất diệt. Bởi không sanh diệt, nên chân thật thường hằng, mà không có tướng trạng,
thường ví như hư không. Từ Pháp thân nhìn ra thân tâm vạn vật đều thấy tạm bợ giả
dối, không có bằng mảy tơ sợi tóc nào chân thật, nên nói: như bọt, bóng, sương mù,
điện chớp... Đi đứng nằm ngồi đều sống với ông chủ này là tu thiền Vô sanh.
Thiền sư Sư Nhan ngồi một mình trên tảng đá, thỉnh thoảng gọi: “Ông chủ
nhân!” Tự đáp: “Dạ!” Bảo: “Phải tỉnh tỉnh đừng để người lừa!”
Tự gọi tự đáp dường như việc đùa cợt chơi. Chính là lối tu tự nhắc mình không
quên ông chủ. Đừng để ngoại cảnh đánh lừa, hằng tỉnh sáng với ông chủ ngàn đời của
mình. Quả là pháp tắc muôn đời cho những người biết sống trở lại mình. Biết trở lại
mình là về quê hương, là đến Bảo sở, là Cùng tử được cha trao sự nghiệp, là Niết-bàn,
là giác ngộ, là giải thoát... Trăm ngàn danh từ khác nhau đều chỉ một việc “trở về với
mình”. Đúng với câu “thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Bởi vì trở về được với
mình, là muôn việc bên ngoài đều theo đó giải quyết xong.
Pháp thiền này có đặt thời khóa tu tập cố định không?
Thiền này không đặt nặng thời khóa (chỉ tùy hoàn cảnh thuận tiện), mà chú
trọng tâm niệm. Trong tất cả thời, mọi hoạt động đi đứng ngồi nằm, làm việc nghỉ
ngơi, cần thấy rõ từng tâm niệm của mình, để không theo, hoặc hằng sống với ông chủ,
không bị ngoại duyên lôi cuốn. Những phút giây nào quên lửng tâm niệm mình, coi
như phạm tội buông lung đáng trách. Cho nên nói “đi đứng, nói nín, hái củi, lặt rau,
thổi lửa, nấu cơm đều là thiền”. Người tu thiền này, mới nhìn dường như họ thong thả
lơi lỏng, thật ra họ miên mật từng tâm niệm. Thiền này là cội gốc thành Phật tác Tổ.
Một hôm, Vương Thường Thị vào thăm Thiền viện của Tổ Lâm Tế, đến nhà
Đông sang nhà Tây, thấy chúng đông đảo, ông hỏi Tổ Lâm Tế:
- Chúng đông đảo thế này, có dạy tụng kinh, tọa thiền chăng?
- Không.
- Dạy họ làm gì?
- Dạy họ làm Phật làm Tổ.
Đấy là pháp tu tinh tế vi mật trong tâm niệm, không thuộc hình thức bên ngoài.
Tổ Lâm Tế cũng nói: “Kẻ ngu cười ta, người trí biết ta.” Kẻ phàm ngu khó hiểu nổi lối
tu này, bậc trí giả khả dĩ thông suốt. Lối tu này không có cấp bậc phương tiện, chỉ một
bề sống với lý tánh chân thật. Lý tánh không có tướng mạo, nên người tu khó nhận,
khó thấy sự tiến bộ của mình. Do đó, đòi hỏi người tu phải lập chí sắt đá, mới mong có
ngày thành công.
Tuy nhiên, cũng có những người học lóm pháp thiền này, ngoài miệng nói bô
bô, mà trong tâm không khi nào biết thúc liễm, chỉ mượn lời Phật Tổ nói, để che lỗi
của mình. Bọn này là kẻ trộm trong Phật pháp mắc tội không nhỏ.
- Biện minh.
Đọc phần Thiền tuyệt đối ở trên, đa số độc giả sanh nghi:
- Đạo Phật chủ trương Vô ngã, ở đây bảo trở về “Ông chủ của mình” là có ngã,
tức trái hẳn giáo lý?
- Trong kinh Phật hằng quở chấp Thường chấp Đoạn của ngoại đạo, ở đây nói
“Ông chủ thường hằng không biến đổi” đâu không đồng chấp Thường của ngoại đạo?
Chúng tôi theo thứ tự giải quyết hai nghi vấn này:
- Đạo Phật chủ trương vô ngã, là vô ngã ngay nơi thân ngũ uẩn này. Bởi vì Bàla-
môn căn cứ vào thọ tưởng hành thức chấp làm ngã, Phật biết rõ nó là tướng vô
thường sanh diệt nên nói vô ngã. Phật chia nó làm bốn thứ, đặt câu hỏi: Nếu chấp thọ
làm ngã thì tưởng hành thức là cái gì? Ngược lại, các thứ kia cũng thế. Nhằm trên năm
uẩn chấp làm ngã, thật sai lầm đáo để. Năm thứ này là tướng duyên hợp, vô thường
sanh diệt, chấp nó là “ta” làm sao khỏi luân hồi sanh tử. Vì thế, kẻ chấp năm uẩn làm
ngã, Phật bảo là vô minh, Ngài phản đối và nói là vô ngã.
Ông chủ của thiền này nói, cũng ngay nơi thân năm uẩn này, song là thể chẳng
sanh chẳng diệt lặng ngầm trong ấy. Thể này, khi thọ tưởng hành thức lặng mất, nó
mới hiện bày đầy đủ. Nó chẳng rời thọ tưởng hành thức, nhưng khi các thứ này hoạt
động, tìm nó không ra. Ông chủ này là thể tịch tĩnh giác tri chưa từng xao động biến
hoại. Chúng ta thử nghiệm xem, khi ngồi thiền hay ngồi một mình chỗ vắng, thọ tưởng
hành thức lặng mất không hoạt động, ta vẫn tỉnh sáng mắt tai... vẫn tri giác như
thường. Cái gì chịu trách nhiệm tri giác trong lúc này, nếu không phải tánh giác tịch
tĩnh thường còn bên trong. Thế nên, ở đây nói “ông chủ” vẫn không trái với chủ
trương vô ngã của đạo Phật. Có sống thật, chúng ta mới thấy rõ điều này, đừng mắc
kẹt trên văn tự cãi lẽ suông vô ích.
- Ngoại đạo chấp “thường” cũng căn cứ trên thân năm uẩn mà chấp. Thân năm
uẩn vốn là tướng sanh diệt vô thường, cái vô thường mà chấp là Thường, nên bị Phật
quở trách. Ông chủ ở đây nói, là thực thể chưa từng động, chưa từng sanh diệt, không
có tướng mạo, vượt ngoài đối đãi hai bên, nói “thường hằng không biến đổi” là gượng
gạo mà nói thôi. Vì thực thể tuyệt đối, còn dùng ngôn ngữ đối đãi nào phô diễn nó
được. Có nhận thấy tánh giác này, chúng ta mới tin lẽ “thường hằng” của nó. Phàm cái
gì có tướng mạo, có sanh diệt đều vô thường, tánh giác thoát ngoài tướng mạo, sanh
diệt làm sao bắt nó vô thường. Nếu không có tánh giác này, cái gì chứng A-la-hán, cái
gì thành Phật, sau khi thọ tưởng hành thức đều lặng mất? Vì lẽ đó, ở đây nói “Ông chủ
thường còn chẳng biến hoại”, không trái với lý vô thường của Phật nói, cũng không
thuộc chấp “thường” của ngoại đạo, mà là chủ yếu của Phật giáo.
􀁄
KẾT LUẬN
Những vấn đề đã trình bày qua, chúng tôi cố gắng cô đọng trong một khuôn khổ
rất nhỏ hẹp, giống như việc “lấy thúng úp voi”, khó tránh khỏi lỗi khó hiểu và thiếu
sót. Chúng tôi chỉ mong độc giả nhận được then chốt của mỗi vấn đề, cần đi sâu vào
chi tiết, sẽ nhờ những quyển kinh sách khác, hoặc nhờ sự dắt dẫn của Tăng, Ni hay
Thiện hữu. Ôn lại then chốt thiết yếu, có thể nói:
Phật là người đã giác ngộ và giải thoát sanh tử, đó là vị trí căn bản của Ngài.
Chúng ta đừng xê dịch, đừng tô điểm, dừng ép buộc Ngài phải rời chỗ căn bản ấy.
Phật pháp là những lời giảng dạy chỉ ra lẽ thật: Lẽ thật trên hình tướng sự vật là
nhân quả, lẽ thật trong sự cấu tạo kết hợp là duyên sanh, lẽ thật thầm lặng trong bản
thể là chân không hay Phật tánh.
Học Phật là tiến bước trên con đường giác ngộ, là nhận hiểu phán xét những lẽ
thật của Phật dạy, đem chỗ nhận hiểu ứng dụng vào cuộc sống con người. Thực hiện
được những điều này, cần nhờ cặp mắt trí tuệ sáng suốt mới thành công.
Tu Phật là ứng dụng những lẽ thật đã nhận xét được vào cuộc sống hằng ngày
của mình. Gỡ sạch mọi phiền não kiến chấp đang trói buộc khắn chặt trong tâm tư
chúng ta, đem lại sự an lạc ngay trong hiện tại và miên viễn ở vị lai. Chẳng những thế,
tu Phật còn có nghĩa vượt ra ngoài vòng đối đãi sanh diệt, thoát khỏi mọi khuôn khổ
hạn cuộc, làm người tự do tự tại.
Với những điểm chủ yếu trên, chúng ta nhận thức chắc chắn sâu xa, là trong tay
đã có sẵn ngọn đuốc sáng, trên con đường về quê ắt không đến nỗi lạc lầm. Giá trị của
Phật pháp là biết để hành, không phải biết để nói. Thực hành sâu chừng nào, càng thấy
giá trị Phật pháp cao chừng ấy. Biết để nói, là người trình bày đủ mọi thức ăn, mà bụng
vẫn đói; là nhân viên phát ngân trong ngân hàng cả ngày đếm tiền, khi ra về chỉ hai tay
không. Chúng tôi ước mong độc giả của quyển sách này không đến nỗi như thế.
􀁄
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Bước Đầu Học Phật-THÍCH THANH TỪ-Thường Chiếu Ấn Tống - PL. 2543 - 1999
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2
 Similar topics
-
» [MF/DVDrip] The Warrior's Way (Con Đường Chiến Binh) (2010)
» ĐỒNG ĐĂNG CÓ PHỐ KỲ LỪA
» Cuối tuần vui vẻ
» Nhạc Tài Tử Nam Phần ...
» TRANG THƠ CHẾ LAN VIÊN

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: ..::VĂN HỌC LÃNG MẠNG::.. :: .:Tiểu Thuyết:.-
Chuyển đến